Nhiệt điện than hay công cụ để Trung Quốc thao túng Việt Nam?

-

Việc Trung Quốc quyết định đóng cửa hàng loạt nhà máy nhiệt điện than và tăng cường đầu tư vào Việt Nam đã được các nhà khoa học, báo giới vạch trần là âm mưu phá hoại môi trường và thải công nghệ lạc hậu sang cho nước ta. Không dừng lại ở đó, mới đây lãnh đạo Bộ tài nguyên còn công bố, nếu không cho các nhà máy nhiệt điện TQ xả thải xuống biển, Việt Nam sẽ có nguy cơ phải đền bù hợp đồng 620.000USD mỗi ngày. Rõ ràng, nhiệt điện than đang dần trở thành công cụ để Trung Quốc thao túng và kiểm soát Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, an ninh năng lượng, môi trường và cả chính sách phát triển kinh tế của quốc gia.

Nhiệt điện than hay công cụ để Trung Quốc thao túng Việt Nam?

Đúng như câu nói: “Chơi với Trung Quốc là đang đùa với lửa”, chủ trương từ bỏ nhiệt điện than của nước này không đơn thuần là vì vấn đề ô nhiễm, nó còn là “chiến lược kép” nhắm vào Việt Nam: chuyển giao công nghệ lạc hậu và tàn phá môi trường. Vấn đề là, dẫu đã được cảnh báo và biết trước hậu quả của việc “làm bạn” với TQ, tại sao Việt Nam vẫn tiếp nhận TQ đầu tư nhiệt điện than? Sau đây là 2 lý do khiến một số lãnh đạo “thấy quan tài nhưng không chịu đổ lệ”:

Một là, công nghệ của TQ mặc dù lạc hậu, kém chất lượng, nhưng luôn kèm theo ưu đãi, đó là cho vay vốn đầu tư, cộng thêm các “lại quả” mà phía TQ đã đi cửa sau cho một số lãnh đạo chịu trách nhiệm phê duyệt. Theo đó, những người chấp bút cho các dự án không biết hoặc cố tình làm ngơ trước hệ quả: chậm tiến độ, đội vốn, năng suất thấp, chất lượng kém, dẫn đến lãng phí, thua lỗ nặng nề, cộng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cụ thể là trường hợp vội vã cho chôn lấp chất thải khi chưa đánh giá tác động môi trường của Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân vừa qua.

Hai là, điều kiện cho vay, tiếp cận vốn của Trung Quốc thường đơn giản hơn do với các định chế quốc tế hiện thời. Chưa kể, Trung Quốc tung ra các khoản vay “cực rẻ” với lãi suất gần như bằng 0 để làm “mồi nhử” thu hút sự lựa chọn của Việt Nam trước tình hình thiếu vốn trầm trọng. Tuy nhiên, kèm theo những khoản vay rẻ, Việt Nam buộc phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc thực hiện gói thầu cũng như sử dụng lao động của nước này.

Hai nhà máy nhiệt điện Long An có vị trí ngay sát TPHCM, đe dọa trực tiếp đến chất lượng không khí và tính mạng của người dân TP

Việc Trung Quốc tìm mọi cách tăng cường đầu tư vào Việt Nam không đơn giản là để tìm kiếm lợi nhuận, thực tế đã có một thời gian Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, mà nguyên nhân chính xuất phát từ hoạt động chậm trễ, hư hỏng thường xuyên của các nhà máy nhiệt điện than do TQ làm tổng thầu. Không biết là vô tình hay cố tình nhưng điều này đã gây không ít thiệt hại cho kinh tế, xã hội Việt Nam. Một đất nước công nghiệp mà lại để việc vận hành một nhà máy nhiệt điện rơi vào tay nước khác là điều nghịch lý, khó thể chấp nhận được. Chưa kể Trung Quốc luôn lăm le hãm hại Việt Nam, nếu một ngày TQ cho ngưng hoạt động của tất cả các nhà máy nhiệt điện than, cả nước bị mất điện, mọi nhà máy, xí nghiệp, thiết bị liên lạc đều bị cắt đứt, liệu TQ có chớp thời cơ này để tấn công Việt Nam hay không?

Cần biết rằng, đằng sau chiến lược kép khi đẩy nhiệt điện than sang Việt Nam, TQ còn ấp ủ nhiều thủ đoạn thâm độc hơn rất nhiều. Tại cuộc họp báo hôm 03/08 vừa qua, lãnh đạo Bộ TNMT đã phản bấm bụng tiết lộ thông tin sốc: theo hợp đồng liên quan đến việc đầu tư, xây dựng nhà máy Nhiệt Ðiện Vĩnh Tân 1, bên nào chậm trễ sẽ bị phạt, mức phạt là $620,000/ngày. Vì vậy, Tập Ðoàn Ðiện Lực Việt Nam và Bộ Công Thương phải lựa chọn “phương án tốt nhất”, là đổ hơn 1 triệu m3 bùn thải xuống biển để tránh làm chậm tiến độ.

Đặc điểm chung của hầu hết các dự án ký kết với TQ là đều “bỏ quên” các điều khoản, quy định đối với các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường (nhẽ ra người chịu trách nhiệm phải là nhà đầu tư Trung Quốc), dẫn đến việc Việt Nam tự đẩy mình vào thế chịu thiệt là bù lỗ tiền tỷ cho việc làm sai hợp đồng. Để xảy ra những “hợp đồng xấu” kể trên, trước tiên không chỉ là do kiến thức và kinh nghiệm quốc tế hạn hẹp, mà còn ở cách làm việc thiếu trách nhiệm của một số đơn vị, cá nhân xét duyệt hợp đồng. Những người này vì lý do gì mà dễ dàng quay lưng với quốc gia và ký những hợp đồng có lợi cho đối thủ? Là vì bị TQ đe dọa, uy hiếp sẽ không tiếp tục hỗ trợ vốn đầu tư, phá hoại các nhà máy điện khiến tình hình đất nước bất ổn, hay một số cán bộ phê duyệt đã vội vã chấp bút vì những thứ xa hoa phù phiếm mà công ty TQ bày ra trước mắt?

Chưa kể, sau những hành vi thiếu trách nhiệm ấy, những cá nhân gây hậu quả có bị xử lý triệt để, hay kịch bản “xin lỗi, rút kinh nghiệm” lại tái diễn? Và rồi ngày càng nhiều hợp đồng bất lợi được ký kết, Việt Nam trở thành “nô lệ” chịu sự kiểm soát của các ông chủ Trung Quốc là điều khó tránh khỏi.

Sơ đồ các nhà máy nhiệt điện than tại khu vực ĐBSCL

Rõ ràng, từ những “hợp đồng xấu” ký kết với TQ, VN không chỉ chịu nhiều hệ quả từ việc chậm tiến độ, đội vốn, ô nhiễm môi trường, mà còn phải hứng chịu nhiều rủi ro không đáng có, nghiêm trọng hơn là rơi vào thế lệ thuộc, buộc phải chấp nhận những điều kiện vô lý, vô nhân đạo từ phía Trung Quốc. Nghiêm trọng hơn, VN rơi vào cảnh “sống dở, chết dở”: hoặc là người dân Việt Nam phải còng lưng trả tiền đền bù hợp đồng, hoặc là chấp nhận cảnh ô nhiễm môi trường. Đó mới chính là thủ đoạn thâm sâu của “người anh em láng giềng” trong các dự án này.

Đáng lo ngại, hầu hết các dự án nhiệt điện than mà TQ đổ vốn đầu tư vào VN đều nằm ở những vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. Cụ thể là, trong 4 dự án nhà máy nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân thì có tới 3 dự án rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Trong khi đó, Vĩnh Tân lại được đánh là khu vực hiểm yếu về an ninh quốc phòng. Vùng đất này chính là yết hầu của Nam Trung Bộ, nơi ‘núi thò chân ra biển.’ Quốc lộ 1A độc đạo đi qua với một bên là núi, một bên là biển. Gọi là yết hầu hay độc đạo bởi không còn con đường nào khác nối liền Nam Bắc ở vùng duyên hải này.

Và với 3 trong 4 dự án nhà máy tại Vĩnh Tân, thì khu vực này luôn có tới hàng nghìn người Trung Quốc túc trực trong hàng chục năm, những người này ăn dầm ở dề, sinh cơ lập nghiệp, thậm chí là lập phố người Hoa ở đây. Chỉ cần có biến, lực lượng nằm vùng này sẽ được tung ra và làm tê liệt hoàn toàn Trung tâm nhiệt điện, chia cắt giao thông Bắc – Nam, tạo đường đi cho hải quân TQ từ Hải Nam và các cơ sở quân sự tại các đảo đang xây dựng trái phép trên Biển Đông ồ ạt đổ bộ từ cảng Vĩnh Tân, khống chế hoàn toàn khu vực yết hầu của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Lực lượng này cũng có thể kết hợp với lực lượng nằm vùng ở các dự án khác của TQ cài cắm xuyên suốt dải đất hình chữ S như: dự án Bauxite Tây Nguyên, Formosa Hà Tĩnh, Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận,… chia cắt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thành nhiều mảnh, nguy cơ mất nước rất là cao.

Tất cả những điều kể trên đều chứng tỏ một sự thật: các nhà máy nhiệt điện than thực chất chỉ là công cụ giúp Trung Quốc thâu tóm an ninh năng lượng, tàn phá môi trường, hút máu dân Việt và thực hiện âm mưu bành chướng lãnh thổ. Mặc dù vậy, sau những hệ quả mà nước ta phải lãnh chịu từ những dự án nhiệt điện than của TQ, Việt Nam dường như vẫn chưa cảnh tỉnh, vẫn tiếp tục sa chân vào những “chiếc bẫy” xả thải, những hợp đồng bất lợi với TQ. Nếu vẫn theo cái đà này, tương lai Việt Nam biến thành một Tây Tạng, hay Tân Cương của Trung Quốc là một kết cục không thể nào tránh khỏi.

Thục Mẫn 

 

 

Ý kiến bạn đọc:

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>

(*)